Xuất bản thông tin Xuất bản thông tin

Tìm hiểu quy định của pháp luật về tạm đình chỉ điều tra và đình chỉ điều tra trong hoạt động tố tụng.

Ngày 28/01/2026, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng
đã liên tịch ban hành Thông tư liên tịch số 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự, theo đó, Thông tư liên tịch đã quy định về tạm đình chỉ điều tra và đình chỉ điều tra trong hoạt động tố tụng như sau:

1.Tạm đình chỉ điều tra

- Khi có căn cứ tạm đình chỉ điều tra, Điều tra viên và Kiểm sát viên phối hợp rà soát chứng cứ, tài liệu bảo đảm việc tạm đình chỉ điều tra theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trước khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can, quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can, Cơ quan điều tra phải xử lý các vấn đề liên quan (nếu có) theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

- Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát phải mở sổ theo dõi và quản lý các vụ án, bị can tạm đình chỉ điều tra. Điều tra viên và Kiểm sát viên thường xuyên rà soát để thống nhất các vụ án, bị can tạm đình chỉ điều tra. Khi thấy lý do tạm đình chỉ điều tra không còn thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra vụ án đối với bị can, phục hồi điều tra bị can. Đối với trường hợp đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc do thay đổi quy định của pháp luật mà hành vi phạm tội không bị coi là tội phạm, thì Cơ quan điều tra trao đổi với Viện kiểm sát trước khi ra quyết định đình chỉ điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về quản lý, giải quyết các vụ việc, vụ án tạm đình chỉ được thực hiện theo các quy định của pháp luật có liên quan.

2. Đình chỉ điều tra

- Khi có căn cứ đình chỉ điều tra, Điều tra viên và Kiểm sát viên phải phối hợp rà soát chứng cứ, tài liệu bảo đảm việc đình chỉ điều tra theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; nếu thấy đủ căn cứ thì Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được phân công ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, quyết định đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can, quyết định đình chỉ điều tra bị can; nếu thấy không đủ căn cứ thì Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra.

- Khi ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, quyết định đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can, quyết định đình chỉ điều tra bị can, Cơ quan điều tra phải hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), xử lý vật chứng, những vấn đề khác có liên quan và thực hiện việc thông báo, gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; đối với biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế do Viện kiểm sát có thẩm quyền đã phê chuẩn, Cơ quan điều tra có văn bản đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định việc hủy bỏ.

 Thông tư liên tịch số 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP chính thức có hiệu lực từ 15/3/2026.

Sở Tư pháp Thành phố giới thiệu đến các cơ quan, đơn vị, cá nhân được biết và nghiên cứu, tham khảo./.

 

danh mục

Cấu hình

SỞ TƯ PHÁP TP. HỒ CHÍ MINH

Địa chỉ: 141-143 Pasteur, Phường Xuân Hòa, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: (+028) 3829 7052 - Fax: (+848) 3824 3155 - Email: stp@tphcm.gov.vn
Website: www.sotuphap.hochiminhcity.gov.vn
Tín nhiệm mạng Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh

Thời gian làm việc:

- Thứ 2 đến Thứ 6:
+ Sáng: từ 07h30 đến 11h30
+ Chiều: từ 13h00 đến 17h00
- Thứ 7: Sáng từ 07h30 đến 11h30